Nhưng chị cũng muốn nhắn gửi tới giới của mình rằng chị đã sang một cuộc thế khá dài, đi nhiều nơi, sống ở nhiều chỗ, tiếp xúc với nhiều cảnh ngộ và căn số người, thấy đàn bà trên toàn thế giới dù có được đàn ông chiều đến mấy thì vẫn khổ

Luôn đồng cảm dù họ là ai Trước khi đến với nghề văn, Trần Thị Trường từng theo đuổi một nghề khác và đam mê với nó, đó là hội họa.
Lúc nào người phụ nữ cũng phải nín nhịn trước chồng, mới vừa mắt nhà chồng và đồng nghiệp.
Nếu viết về những người phụ nữ ấy, chị cũng vẫn sẽ san sẻ với họ sự đồng cảm này. Chức năng thiên nhiên ấy buộc người phụ nữ có bổn phận, trách nhiệm với những đứa trẻ, vì thế họ không bao giờ chỉ sống cho mình mà luôn sống vì người khác. Ngay trong “Phố Hoài”, cuốn tiểu thuyết viết đã ba năm (chị không thể viết nhanh bởi công việc bận rộn ở trọng tâm bản quyền tác giả âm nhạc VN; hơn nữa chị cho rằng, ở tuổi này rồi chị muốn làm một cái gì đó kỹ lưỡng hơn, sâu nặng hơn), cũng tập trung vào thân phận những người đàn bà mà chị đã gặp mà chưa viết được về họ.
Bạn bè đọc được, người này người kia bảo chị có hơi hướng văn chương, thế nên khi không còn trẻ gì, 39 tuổi, chị bỗng trình làng tác phẩm đầu tay, nhưng là tiểu thuyết (hẳn nhiên, đấy là theo cách nói của chị, chứ thật ra nhiều người bắt đầu viết văn ở tuổi cao hơn nhiều). Nhưng người nữ giới cũng phải biết kìm chế cảm xúc, biết nên giới hạn đến đâu là vừa để không tự làm khổ mình.
Không chỉ đàn ông không thích phụ nữ hơn mình, mà nữ giới với nhau cũng xói móc nhìn nhau. Và cũng từ đó, Trần Thị Trường viết liên tục. Người phụ nữ Việt Nam yêu chồng không chỉ lên đường bởi chữ “yêu” mà còn phải “thương” nữa. Thế nên, họ cũng luôn hỏi người đàn ông của mình rằng “anh có thương em không”, chữ “yêu” thiêng ấy bao giờ cũng phải đứng cạnh chữ “thương”, khi ấy “yêu” mới vẹn tròn, sâu nặng và bền lâu.
Những truyện ngắn ban sơ được viết ra chẳng có ý đồ gì cho việc trở thành nhà văn sau này cả, chúng được viết theo kiểu tác phẩm tuổi xanh, ký những cái tên khác nhau. Họ biết chăm sóc cho bản thân nhiều hơn, nhiều người dám sống cho mình, dám chịu nghĩa vụ; họ rất yêu quý ba má nhưng vẫn chọn cách sống của bản thân họ, và chị ủng hộ điều đó.
Ở đó, người nữ giới vừa đáng thương vừa đáng giận, vừa đáng ghét vừa đáng yêu. Nhưng dù họ có mưu đồ đến mấy, có thể sẵn sàng ăn bớt ăn xén ở đâu đó thì rút cục cũng lại đem về cho chồng cho con chứ chẳng phải vì bản thân mình.
Chị bảo rằng, không ít lần chị động lòng khi chứng kiến người đàn ông Âu, Mỹ họ “nịnh” phụ nữ, mà họ “nịnh” ghê lắm. Từ cái nhìn ấy, chị thấy người đàn bà Việt Nam quả thực vĩ đại, nhưng chính họ cũng làm hư người đàn ông của mình. “Tôi không thấy cặp vợ chồng nào đi với nhau mà người đàn bà phải xách nặng, còn đàn ông đi tay không. Bản năng phụ nữ cộng với sự mẫn cảm của người viết văn đã cho chị cái nhìn toàn diện và biết rất rõ mình nên đứng ở đâu và viết vì lẽ gì.
Nhân vật nữ chính trong truyện tên là Thương, một người đàn bà mang đầy đủ vẻ đẹp của đàn bà Việt, hạnh phúc và cay đắng. # Bằng tiếng nói trau chuốt và rèn luyện mà có, bằng không thì họ kể câu chuyện theo cách của riêng mình.
Chị muốn người nữ giới mạnh mẽ hơn lên, làm chủ cuộc sống hơn lên, nhưng vẫn chẳng thể hình dong một người nữ giới sống đơn thân thì sẽ sống thế nào? Nhưng sau khi nghe câu chuyện của những người đàn ông trong một đôi cặp vợ chồng già chuyện trò với nhau rằng, nếu giời bắt phải chết thì xin mong cho được chết trước vợ mình vì họ sẽ không biết phải làm gì trong Thời gian còn lại của cuộc thế khi chỉ có một mình; thì chị nghĩ rằng người đàn bà dù có sống một mình cũng chẳng sao cả, xét cho đến cùng, họ vẫn phải tự làm lấy mọi việc một mình.
Thật ngẫu nhiên, hầu như các tác phẩm của chị, đặc biệt là truyện ngắn, nhân vật chính hồ hết là nữ. Trong vòng quay ngày càng tất tưởi và ngày một phát triển của cuộc sống, người đàn bà hiện thời bản lĩnh hơn xưa rất nhiều.
Chỉ có điều, dù thế nào, chị cũng vẫn đứng về “phe” của mình-phe nước mắt. Cuốn tiểu thuyết “Lời cuối cho em” được tái bản nhiều lần sau đó.
Nhớ lại một thời kỳ, cuộc sống muôn vàn khó khăn, nhiều người thất nghiệp, nhiều ông chồng chẳng có việc làm, nhiều bà vợ đứng ra cáng đáng gánh nặng cơm áo.
Không cố ý gán cho nhân vật một sự tuyệt đối nào nhưng chị mường tưởng rằng, cái tên “Thương” phải chăng là đại diện cho thực chất của người nữ giới Việt Nam. Người có nghề nghiệp thì không nói làm gì, những người vạn bất đắc dĩ phải đi là những việc không giảng giải được, không dễ hiểu thì láng giềng ngay tức khắc gọi là “con đĩ”. Chị xót thương những số phận như thế. Đương nhiên, Âu Mỹ, trong quan hệ nam nữ, họ thống nhất với nhau một số những nguyên tắc cơ bản về tiền nong.
Thời kì sống ở trời Âu những năm tám mươi của thế kỷ trước càng khiến Trần Thị Trường đồng cảm với người đàn bà Việt hơn. Chị cũng là phụ nữ và chị hiểu vơ những điều ấy.
Với chị cũng vậy. Đời mà xã hội qui định cho nữ giới những khuôn mẫu, chỉ cần họ sống khác đi một chút đã nhận được cái nhìn không thông cảm, mẹ chồng có thể nhìn thẳng vào con dâu mà nói “con hơn chồng con là tai họa rồi”.
Đàn bà nào cũng yếu đuối, nông nổi, cả tin, thậm chí chua ngoa, đáo để nhưng cứ nhìn kỹ mà xem, có cuộc hôn nhân nào vỡ vạc khi ra tòa mà người giành nuôi con không phải là nữ giới đâu?”, chị nói. Khi xuống xe, người đàn ông vội chạy xuống mở cửa, đưa tay đỡ người đàn bà bước xuống… Trí thức cũng như công nhân, đều như vậy”.
Nhưng văn học như mạch nước ngầm sẵn có trong mỗi người, sẵn sàng cho dòng nước mát lành khi được khơi đúng nguồn. Riêng chuyện sinh nở đã là khác biệt và quá nặng nhọc. Trần Thị Trường không phải không mâu thuẫn với chính mình khi bản thân chị cũng nhận biết được những khoảng trống khó có thể lấp đầy với người đàn bà sống đơn thân ở Việt Nam, điều hoàn toàn không có gì đáng phải bàn đến ở các nước phương Tây.
Chỉ có điều, người thì nói ra, người thì cất giữ, người tài tình trình diễn. Và trái tim đa cảm của đàn bà khiến chị luôn đồng cảm với những nhân vật của mình dù họ là ai, làm nghề gì, dù là trí thức, là dân văn phòng, hay những người lao động, người đi bán café, đi làm khách sạn, thậm chí là gái làm tiền.
Mong những người nữ giới mạnh mẽ hơn lên Trần Thị Trường tự nhận mình thuộc thế hệ trước. Xuân Phong. Thế nên, từ “Lời cuối cho em” đến truyện ngắn sau này trong các tập truyện ngắn “thời kì ngoảnh mặt”, (2001), “Hoa mưa” (2003), “Tình như chút nắng” (2005) hay những truyện ngắn gần đây “Sóng vỗ mạn thuyền”, … chị viết và hy vọng, nếu họ đọc được thì đấy là một sự chia sẻ của con người với con người, của những người nữ giới với nhau trong cuộc thế này.
“Ngay như bây giờ, báo chí hay nói chuyện này chuyện kia về giới showbiz, cô này trong đường dây gái gọi, cô kia đi với đại gia và nhiều chuyện khác nữa, nhưng tôi tin đó chỉ là bề nổi, phía sau đó họ cũng có câu chuyện của họ.
Họ không xách đồ thì là bế con. Không như ở ta, nhiều khi người đàn ông đã đưa hết tiền cho vợ thì “anh ta” có quyền bắt vợ làm nhiều việc”, chị nói.