Một ngày cuối năm 1971
Mộ ông Minh nằm đơn chiếc bên triền núi ven sông. Bỏ qua một số thủ tục cưới xin. Lòng bà canh cánh lo lắng. Nhận được thư và quà. 2 người con gái đầu và cậu con trai út. Có lẽ anh đã thỏa ước nguyện. Bà Tính sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mệnh ở Xuân An. Cô giáo vừa mừng. Những dòng nhật ký nhuốm “màu thời gian” của bà Tính Cũng từ đó. Lúc bấy giờ. Một chiếc nón lá.
Trong 43 năm ấy. Bà Tính đang công tác tại Trạm Kiểm định chất lượng dược phẩm. Người bố của các con… Ngày 10-6-1962”.
Một đồng đội gửi thư về báo tin chiến sĩ Hồ Đức Tín bị mảnh bom phạt ngang bẹn làm mất nhiều máu và chẳng thể cứu chữa trong điều kiện đạn bom ác liệt. Mái tóc đã phai sương và trên khuôn mặt in hằn khối vết chân chim. Sau hơn một giờ đồng hồ đào xới.
Tìm được niềm vui và sự san sẻ. Lo vì chiến tranh. Những lá thư ấy đã tiếp cho bà thêm sức mạnh để vượt lên tình cảnh khó khăn.
Về nhà. Anh hơn tôi 3 tuổi. Tin dữ chợt đến khiến cô giáo Hoàng Thị Trinh quỵ ngã. Bà luôn hứa với chồng sẽ cố nuôi dưỡng các con lớn khôn. Đó là lần chung cục mình còn được nhìn thấy chồng bằng da. Dù có lương hướng hưu nhưng bà Trinh vẫn mở một quán nhỏ để bán hàng tạp hóa. Cô giáo Hoàng Thị Trinh đang tập huấn tại xã Xuân Lâm (cách nhà gần 10km) hay tin người yêu trên đường công tác được ghé thăm nhà nhưng vẫn chờ hết buổi mới trở về.
Quãng thời gian quá dài đối với một đời người. Từ bấy đến nay. Bà vẫn nghe văng vẳng đâu đây tiếng ông khích lệ và nhắc nhở. Thân hình cô gầy rộc. Bà cứ đợi với niềm tin như thế.
Có thể thấy. Quá sức chịu đựng đối với một cô gái đang trong độ tuổi yêu đương. Khi cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào thời đoạn gay go. Trước khi được điều động chuyển sang công tác “đặc biệt” tại Thái Lan. Cô dâu Hà Thị Tính hưởng niềm hạnh phúc làm vợ vẻn vẹn chỉ được một tuần lễ.
Thế cục anh. Tình cờ bà Tính gặp lại người đồng đội cũ của chồng. Nhưng ai ngờ suốt ngày Hoàng Thị Trinh lại nằm trên giường.
Cô giáo làng rất đỗi bất thần khi món quà ấy là tấm Huân chương Chiến công hạng Ba. Đã hơn 30 năm rồi nhưng có những đêm em chẳng thể nào chợp mắt được”. Mừng vì sắp được trở nên cô dâu.
Thư nào anh viết cũng động viên em cố gắng vượt qua mọi khó khăn vất vả để anh yên tâm hoàn thành nhiệm vụ…”. Đêm khóc ướt cả gối. Thời kì như ngưng đọng lại và người nữ giới ấy luôn sống với ký ức của một thời đã qua. Bà Hà Thị Tính bên cuốn nhật ký Suốt buổi trò chuyện. Ban đêm về bóc lạc và đan áo thuê để kiếm tiền nuôi con.
Lúc đó. Những mảnh hài cốt màu trắng lộ ra dưới vồng đất đen. Mẹ cô hỏi rõ sự tình và khuyên con gái mình hãy gượng lên để tiếp kiến sống và làm việc.
Bà không ngờ rằng. Phóng sự của Bùi Khánh Huyền. Mong mỏi lớn nhất của thế cuộc bà Hà Thị Tính là đưa được hài cốt chồng về quê hương. Thế cục bà Hoàng Thị Trinh và Hà Thị Tính là tiêu biểu cho số mệnh đau thương.
Đó là những lần công việc quá vất vả và bà còn phải lo chữa chạy thuốc thang cho con trai. Bà Tính thắp mấy nén nhang. Nhìn lại nét chữ thân yêu. Vì cưới được một tuần thì người lính trẻ Trần Văn Minh lại mang balô ra mặt trận. Vào ngày giỗ liệt sĩ Tín. Ôm bo bo chồng thư và những kỷ vật của người tình.
Thỏa lòng mong ước và nỗi khao khát. Cuộc thế anh. Ái tình của đôi họ đến nhẹ nhõm nhưng khôn xiết đặm đà và bền chặt. Năm mới 16 tuổi. Rồi bà kể về cuộc thế và những trang nhật ký đẫm nước mắt của mình. Giờ đây đang ở với gia đình người em trai.
Hai năm sau. Cô gái ấy trở nên người nữ giới trước hết giữ chức phận chủ toạ xã Xuân An. Bao giờ cũng vậy. Nữ chủ toạ xã Xuân An gặp Trần Văn Minh (quê Nghệ An) - chàng thanh niên 18 tuổi tình nguyện lên đường nhập ngũ.
Ngày hôm sau là Chủ nhật. Chị nỗ lực thay anh ấy dạy bảo các cháu”.
Em thay anh coi sóc Sơn. Bà Tính nhận báo tử của chồng. Nguyện suốt đời chung thủy với một người. Ai săn sóc con?. Bà Tính nhớ rất rõ lần thứ nhất vào năm 1961. # Của người lính trận. Một thời kì sau. Tính ra đã 43 năm. Bà lại làm mâm cỗ đem lại nhà bố mẹ đẻ của người yêu để dâng lên ban thờ. Để rồi. Thu nhập chẳng đáng là bao nhưng được cái khuây khỏa. Ở nhà. Vào một ngày cuối Thu năm 1967.
Mãi đến năm 1984. Cảm mến nhau từ những buổi sinh hoạt chi đoàn và cần lao XHCN nhưng không ai nói ra. Linh cảm của người mẹ đã mách bảo con gái mình đang gặp chuyện chẳng lành.
Hằng đêm. Bà ngồi khóc một mình. Những lúc như thế. Dép. Chia sẻ nhưng bà Trinh chỉ đáp đúng một câu là lửa lòng đã tắt.
Trò chuyện với bà. Rồi mưa xối xả. Lời kể của bà cũng ngập trong những tiếng nấc nghẹn ngào. Biết đâu anh Minh đi tuyến Thái Lan. Buổi tối hôm đó lại đúng vào ngày chi bộ tổ chức hấp thu cho đảng viên mới. Khổ cực. E thẹn nên không kịp nói lời hẹn ước. Anh rất tin ở em và mong em làm bằng được mọi điều như những người nữ giới “ba đảm đảng khác”.
Hết giờ lên lớp lại về nhà ngồi đờ đẫn. Người thanh niên có tên Hồ Đức Tín - tình nhân bà Trinh xuất phát tòng ngũ. Bon chen. Người lính trở về từ chiến trường nài mãi cô giáo làng mới chịu đến nhà ăn bữa cơm trưa.
Và điều kỳ diệu đã đến. Nay xa cách Hỡi ánh trăng Thu rải thảm trên đường Hai bánh xe em vẫn lăn đều Anh ước gì có đôi bánh xe bon Để ngày hòa bình gặp lại Anh cùng em thăm cảnh nước non”.
Vải. Bà mới tin là chồng đã ra đi thật
Bà vẫn chuyện trò với chồng qua những trang nhật ký. Bà nói trong nước mắt: “Ngày xưa. Gửi nhiều thư đi nhưng không nhận được phúc âm. Vì bữa cơm nào tôi cũng ngước lên di ảnh và thầm gọi tên anh. Bà gần như chỉ có khóc. “Mỗi lần cho con ăn. Đây là một đoạn trong một bức thư ông Minh gửi vợ: “Em thương xót của anh ơi! Đằng đẵng hai năm trời mà anh và em không nhận được lá thư nào.
Không lâu sau. Xung quanh cỏ mọc um tùm. ”. Trưởng thành. Tưởng thế là ổn. Rồi lấy những bức thư cũ ra đọc. Có không ít người đàn ông tìm đến mong được gắn bó. Ngày bà cùng đồng đội của chồng sang xứ sở Chùa Vàng tìm mộ chồng. Lẩm bẩm lời căn dặn mẹ con ở nhà phải thật kiên cường.
Tuy thương vợ. Đồng đội của liệt sĩ Hồ Đức Tín lại tìm đến nhà bà Trinh. Nhưng có những khi gián đoạn cả tháng trời. Nên bà luôn gắng gượng để hoàn thành mọi công việc được giao.
Nơi bố cô cất chồng thư và ngửa mặt khóc. Trước hoàn cảnh đó. Giống như bao người vợ trông tình cảnh chiến tranh.
Trách móc: “. Vào một ngày tháng 8/1968. Đảm trách. Vì chiều hôm đó người lính lại tiếp khởi hành làm nhiệm vụ. Lòng anh như lửa đốt. Thế cuộc bà Tính giờ đây thêm một lần đau đớn.
Nhưng những lúc như thế. Bà Hà Thị Tính và ông Trần Văn Minh có với nhau 3 người con. Đợi chờ tin tưởng. Sự khôn lớn của từng đứa con bà đều san sẻ với chồng.
Người vợ trẻ chỉ biết trải lòng mình lên trang viết (sau này bà gọi đó là những trang nhật ký): “Anh Minh! Trong bom rơi. Ngay ngáy. Mong hương hồn người đội viên được yên nghỉ nơi chín suối. Anh cũng xin hứa với em và các con trong mọi hoàn cản công tác. Hài cốt của liệt sĩ Trần Văn Minh được gói vào balô theo bà cùng cháu ngoại và đồng đội trở về quê hương… rốt cục.
Để cô khỏi nhìn thấy lại thêm khổ đau. Cô giáo Hoàng Thị Trinh nhận được quà của bồ gửi về từ trận mạc. Dù sao bà cũng đã được làm vợ (dù chồng bà đã hy sinh) và làm mẹ của những đứa con (dù có người bị tật nguyền).
Bà Tính luôn nâng niu và xem những lá thư của chồng là báu vật của riêng mình. Dẫn đến bại. Nhưng nỗi đau này quá lớn. Mong ước tìm di cốt chồng giờ đã thoả nguyện. Anh đã từng nói với em: “Trong tranh đấu. Rồi bản thân đến tuổi nghỉ hưu. Nước mắt của sự mừng vui sau suốt mấy chục năm trời.
Vì thời gian không có nhiều nên xin phép bố mẹ được rút bớt các lễ thức. Đêm đó. Bố cô lại lấy chồng thư và các kỷ vật như nón. Chiến tranh không ước hẹn. “Người gái nhỏ hậu phương” chợt thấy lo âu. Đến năm 1964. Mỗi lần về thắp hương cho đồng đội đều không cầm được nước mắt. Thuộc Sở Y tế Nghệ Tĩnh. Bà lại chạnh lòng rồi có chút hờn giận. Bà luôn thắp hương và dâng lễ trước di ảnh của người tình.
Cô giáo Trinh dành thời gian thêu khăn và đôi gối có hình đôi bồ câu để chờ ngày cưới. Khăn. Hôm nay xảy ra chuyện gì. Bất hạnh của bao người phụ nữ Việt Nam trước mầm họa chiến tranh.
Trong đợi và nỗi lo lắng. Bố và 2 anh trai đều là cán bộ tiền khởi nghĩa. Người lính bảo rằng sắp tới sẽ xin phép đơn vị nghỉ mấy ngày để về làm đám cưới.
Rồi. Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Thời đó Đảng ta đang còn giữ bí ẩn nên phải có giấy báo tử sống để anh hoạt động. Bà Trinh khai mạc câu chuyện: “Tôi và anh ấy ở cùng làng. Lập trường luôn hoàn tất tốt để xứng đáng là người chồng của em. Không biết đến bao giờ ý trung nhân mới được trở về.
Những cuốn nhật ký có trang được dán kín lại. Một ngày giữa năm 1965. Tìm đọc những lá thư chồng gửi về năm xưa. Các đồng nghiệp phải đưa sang trạm y tế để cấp cứu. Chăm con trai thương tật và nuôi 2 con gái học hành. Đi từ mặt trận này đến chiến trận khác.
Cô giáo thẫn thờ. Có những thời kì bà viết liên tiếp. Gối xuống thắp hương và xin châm lửa để hóa. Bà Tính không giấu được vẻ buồn bã và khổ cực. Một đôi dép và vải may xống áo. Trong những giọt nước mắt ấy có sự xót thương cho đồng đội không được trở về. Lòng luôn phấp phỏng. Và chiến sĩ Tín nhờ cô giáo nhắn hộ với mẹ thầy của mình chuẩn bị 50kg nếp và 1 con lợn để làm đám cưới.
Đã gần 50 năm trôi qua nhưng bà Trinh vẫn thuộc như in những câu thơ người yêu gửi kèm trong một bức thư: “Anh gửi cho em dòng thơ tháng Bảy Nét chữ thân quen tiếp cho dòng mực chảy Những đợt sóng vô hình tràn đến xôn xang ắt đêm nay như lòng anh lửa cháy Nhớ Thúy Trinh bé nhỏ. Đức hạnh.
Chờ đợi. Dù vậy. Suốt cả thế cục bà chưa bao giờ bà được ở bên cạnh chồng hơn một tuần lễ. Anh lại tranh thủ nắm viết thư về cho vợ. Bom đạn càng ngày càng ác liệt.
Thiếu thốn. Phụ nữ là những người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của chiến tranh. Những người lính năm xưa giờ đầu tóc đã bạc.
Những ký ức về ái tình đã giúp tôi gượng dậy và nâng bước tôi gữa thế cục”. Bà Tính cũng chờ được ngày trở chồng về! Và hằng đêm. Đang đứng trên bục giảng. Hơn 40 năm qua bà đã khóc quá nhiều nên nước mắt không còn tràn đầy. Ban ngày đi làm. Có sự kính trọng và cảm thông với người phụ nữ đã hơn 40 “hóa đá” bên di ảnh ý trung nhân. Năm 1967. Đứa con trai út luôn là nỗi niềm đau đáu của bà.
Sững sờ đớn đau đến tê dại. Giang sơn còn chia cắt. Người nữ giới xấu số ấy san sớt: “Trong cuộc sống rầm rĩ.
Rồi một ngày tình cờ vì công việc. Noi gương cha và anh. Quờ quạng cùng thắp hương nguyện cầu và chia sẻ khó khăn với người đàn bà trung trinh. Con trai 4 tuổi Trần Hồng Sơn bị sức ép của bom Mỹ nên bị thương nặng
Một năm sau khi chiến sĩ Hồ Đức Tín ghé về thăm nhà. Ông được cấp trên cho phép về thăm vợ con. Ông Minh đi biền biệt. Người đồng đội cũ của ông Minh đã phát hiện ra mộ năm xưa.
Và nữa: “Anh đi anh im lặng! Để lại cho thế cục 4 mẹ con em đầy cay đắng và đau khổ. “Tôi chẳng thể tin nổi. Không thể khóc nổi thành lời. Xem như mình là một thành viên trong gia đình. Bà Trinh vẫn thờ di ảnh liệt sĩ Hồ Đức Tín.
Chúng tôi chợt nghĩ hay tên bà đã vận vào chính cuộc đời bà? Bởi cho đến nay.
Em chết đi. Cho dù người đó không bao giờ trở về giữa cuộc sống thực tiễn. Bị địch giết vì đi theo cách mệnh. Bà không dám tin đó là sự thực. Có vẻ như bà già hơn so với tuổi. Bà có tên là Hoàng Thị Trinh (sinh 1945) ở xã Nam Cát. Thế rồi. Không kể hết những bịn rịn. Nhưng với thế cuộc bà. Trước mắt anh là quân thù của dân chúng”.
Những vất vả. Là vợ của người đã khuất. Kèm theo là một bức thư với lời lẽ khẩn thiết xót thương. Do một người đồng đội trao đến tận tay. Ngửa mặt lên trời bà thầm cầu khấn. Rồi đến lúc 2 cô con gái đi học xa và bước chân theo chồng. Anh ấy viết thư đáp muốn được cùng tôi ăn cơm suốt cuộc thế.
Thương con nhưng vợ con chỉ có một phần bé nhỏ trong trái tim anh. Rồi bà vặn nhỏ ngọn đèn dầu. Giở từng trang nhật ký. Đúng hơn là với chiếc bóng của chính mình. Rồi một ngày đầu năm 2009. Anh trót với dân chúng. Nhưng hễ dừng chân ở đâu. Mời anh cùng ăn”. Buổi sáng ngày hôm ấy bầu trời trĩu nặng. Khi vừa nhận Giấy báo tử của chồng không lâu thì trong một trận bom thất kinh. Như vậy.
Quyến luyến lúc chia tay nhưng hai người vẫn ngập ngừng. Và có lúc bà tưởng tuồng như gục ngã. Đó chính là những điều riêng tư mà bà chỉ muốn nói với chồng.
Ông Minh chỉ kịp về thăm nhà 2 lần. Khi đặt chân lên bản làng ven sông Mê Công ở Thái Lan. Bà vẫn chưa biết đến sự ấp ủ. Những đêm giao thừa mình bà với đứa con trai tàn tật trong căn nhà quạnh. Nhưng điều sâu xa là hơn 40 năm qua. Nôn nao. Sợ con gái mình sẽ chết mòn trong đau khổ.
Những lúc có thể. Nhớ đến chồng. Giỗ tết. Con cháu đuề huề. Chiều chuộng của người đàn ông. Cho con. Dòng nước mắt ấy còn là nỗi xót xa. Còn em và con anh bỏ lại”. TP Vinh (Nghệ An) vẫn còn ít nhiều may mắn. Theo bà. Năng lượng Mới số 317+318 Hơn 40 năm thờ di ảnh ý trung nhân Trước mắt chúng tôi là người nữ giới đã cận kề tuổi 70. Mà chỉ rịn ra từng giọt từ khóe mắt rồi chảy trên gò má nhăn nheo.
Mỗi khi có dịp. Hễ làm việc bà cũng “hỏi ý kiến” hoặc “báo cáo” với chồng. Từ đó. Từ ngày xuất phát nhập ngũ. Bởi lẽ. Huyện Nam Đàn (Nghệ An). Bà Hoàng Thị Trinh và đồng đội trong ngày giỗ liệt sĩ Hồ Đức Tín Theo lời bà Tính. Đớn đau khi người chồng yêu dấu năm xưa giờ chỉ là nắm xương tàn dưới nấm mồ hoang vắng. Bố cô phải cất chồng thư của con gái lên mái tranh. Bà vẫn tôn thờ người đàn ông - người lính - bồ của mình đã ngã xuống dưới đạn bom của đế quốc Mỹ.
Gần nửa thế kỷ viết nhật ký chờ chồng So với cô giáo Hoàng Thị Trinh. Cô giáo Hoàng Thị Trinh xin phép bác mẹ liệt sĩ Hồ Đức Tín nhận mình làm con dâu và xin được rước di ảnh người tình về nhà hương lửa. “Chiến tranh không có khuân mặt nữ giới” nhưng xét ở một góc độ nào đó. Người mẹ ấy đã gồng mình cáng đáng mọi công việc. Phút giây đó bà Tính chỉ biết lao xuống ôm nắm xương của chồng rồi òa khóc.
Thân yêu Anh cứ chờ trong nỗi vương vấn Vừa mới gặp nhau. Cô gái có tên Hà Thị Tính xung phong đi dân công hỏa tuyến. Trong đó có cô giáo Trinh nên hai người vẫn chưa thể gặp nhau. Dược sĩ Hà Thị Tính (75 tuổi) ở Phường Hưng Phúc. Em lại khóc. Tôi vẫn cố nghĩ là anh ấy vẫn còn sống. Khi đã sắp bước vào độ tuổi “cổ lai hy”. Cô giáo Trinh lặng người khi nhận được tin bồ vừa hy sinh tại chiến trường Quảng Trị.
Bố mẹ lần lượt khuất núi. Có thời kì rảnh là ông lại viết thư về thăm vợ. Tiếp kiến chúng tôi. Chẳng thể san sẻ cùng ai. Cặp mắt trũng sâu. Người ấy đã nắm lấy tay bà và khóc: “Anh Minh đi thật rồi. Bằng thịt. Khi giang sơn hợp nhất đã gần 10 năm. Có lúc tưởng chừng như sẽ gục ngã. Em còn sống. Ác liệt. Đạn nổ ở mặt trận. ”. Vừa lo. Bởi lẽ. Những lúc như thế bà luôn có cảm giác chồng đang ở bên và nghe được những điều bà nói.
Linh cảm rằng chồng đang nằm đâu đây. Rau hết gạo cạn. Mắt nhìn trân trân lên mái nhà. Trở thành vợ của người lính trận. Bà Tính lại lần giở. Một đám cưới giản dị được tổ chức trong niềm hoan hỉ của hai bên gia đình và xóm làng. Sau khi soạn xong giáo án. Những năm tháng bao cấp. Những trăn trở và khó khăn mẹ con bà đang gặp phải.
Trần Văn Sơn - con trai út của bà đã lặng lẽ ra đi ở tuổi 45. Họ đã “hóa đá” để chờ người bạn đời theo bước chiến chinh. Tôi không nhớ đã có bao nhiêu đêm mình ngồi viết nhật ký chờ chồng” - bà kể lại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét